Giới thiệu

 

 

Giới thiệu về Y học tự nhiên – Môn khoa học Y học tự nhiên

Y học tự nhiên phát triển như thế nào?

Tại Mỹ ngành Y phát triển không ngừng ở mọi lĩnh vực chuyên môn, đồng thời tìm cách thu thập những phương pháp Y học hay trên khắp thế giới, từ cổ xưa cho đến hiện đại. Để tìm hiểu, nghiên cứu tường tận và hệ thống hóa những tinh túy rồi xây dựng thành những môn học đưa vào giảng dạy ở các trường Y.
Sự tiến bộ và dẫn đầu của nền Y học Mỹ là nhờ tinh thần luôn biết cải tiến và phát huy, không bị gò bó trong tư tưởng bảo thủ, cục bộ, không phân biệt hay kỳ thị Đông Y hay Tây Y, một khi có giá trị là chấp nhận với tinh thần khoa học phục vụ cho đại chúng.
Một trong các môn Y học mà được người Mỹ thừa nhận và đánh giá cao là môn Y học tự nhiên.

Y học tự nhiên

Y học tự nhiên

Vậy Y học tự nhiên là gì?
là nghệ thuật và khoa học điều trị thiên nhiên.
Y học tự nhiên là môn khoa học độc đáo bao hàm các loại vấn đề bảo vệ sức khỏe cùng điều trị. Đặt nặng mục đích phòng ngừa và dùng các phương pháp và các chất thiên nhiên nhất để điều trị.
Y học tự nhiên hỗ trợ và kích thích giúp cơ thể tự cứu chữa qua các hệ thống đề kháng và miễn nhiễm tự nhiên cùng với nhiều hệ thống khác có sẵn.
Mục tiêu chính của Y học tự nhiên là nhằm vào nguyên nhân sâu xa nhất gây bệnh, thay vì chỉ điều trị triệu chứng.
Y học tự nhiên cần xem xét các vấn đề từ : thể xác, dinh dưỡng, lối sống, tâm trí, tinh thần, tình cảm, khi chẩn đoán và điều trị bệnh.

Y học tự nhiên

Y học tự nhiên

Y học tự nhiên dùng cách nào để điều trị bệnh ?
1. Dinh dưỡng lâm sàng : xét về các mối liên quan giữa việc ăn uống với sức khỏe con người.
Từ đó quyết định loại thực phẩm với đặc tính như thế nào dùng được để chữa bệnh. Bao gồm các loại như : Vitamin, khoáng chất, enzym, dưỡng chất..

2. Thảo dược : con người đã dùng thảo dược để chữa bệnh ngay từ những ngày đầu khi có nền văn minh. Là nguyên thủy của ngành dược học. Cây cỏ của khắp năm châu được dùng để chữa bệnh, cũng là bổ dưỡng chân thân.

3. Vật lý trị liệu : gồm các loại dụng cụ, biện pháp điều chỉnh cột sống, các loại khớp xương và các cơ, gân, bắp thịt, các phương pháp dưỡng sinh…
4. Châm cứu và Đông Y : phương pháp nhằm cân bằng âm – dương trong cơ thể.
5. Hướng dẫn lối sống : các yếu tố vật chất, tinh thần, môi trường sống, dinh dưỡng đều ảnh hưởng đến sức khỏe.
Y học tự nhiên có an toàn không?
Y học tự nhiên là 1 quá trình điều chỉnh lại các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe một cách tự nhiên nhất, gần gũi với thiên nhiên, không có hoặc có ít tác dụng phụ. Vấn đề an toàn rất được coi trọng trong quá trình phòng và chữa bệnh.
Y học tự nhiên là khoa học 
Các loại thảo dược, dược chất thiên nhiên đã được nhiều nhà khoa học qua hàng ngàn các nghiên cứu khoa học chứng minh.

Y học tự nhiên – sự kết hợp giữa Y học cổ truyền và Y học hiện đại

Hiện nay trên thế giới đang tồn tại song song 2 trường phái y học, đó là y học cổ truyềny học hiện đại. Y học cổ truyền chữa bệnh bằng thảo dược theo kinh nghiệm truyền lại từ thời cổ. Y học hiện đại chữa bệnh bằng các hóa chất và phương tiện do con người tạo ra trên cơ sở những kiến thức khoa học tiên tiến.
Trước đây, cố Bộ trưởng Bộ Y Tế – Giáo sư, Bác sỹ Nguyễn Văn Hưởng đã đề ra phương hướng xây dựng nền y học dân tộc trên cơ sở kết hợp Đông y và Tây y. Tôi cho rằng, quan điểm của Bộ Y tế là hoàn toàn đúng đắn vì, xét hai trường phái y học trên tôi thấy, mỗi trường phái có những ưu và nhược điểm khác nhau, nếu ta loại bỏ những nhược điểm của 2 trường phái để tận dụng những ưu điểm thì chúng ta sẽ có một trường phái y học hoàn thiện, tôi gọi đó là trường phái Y học tự nhiên và xin tạm định nghĩa như sau:
Y học tự nhiên là môn khoa học nghiên cứu việc phòng chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe bằng tự nhiên

I. Ưu điểm và nhược điểm của y học cổ truyền.
1. Ưu điểm:
– Dùng thảo dược chữa khỏi bệnh mà không hại người.
Con người và cây cỏ đều là sản phẩm của tự nhiên. Con người là sản phẩm của tự nhiên, dùng cây cỏ cũng là sản phẩm của tự nhiên làm đồ ăn thức uống và chữa bệnh là hoàn toàn vô hại. Một số bác sỹ tây y cho rằng thảo dược cũng có tác dụng phụ, nói như vậy là không đúng vì thảo dược chia ra 3 loại: loại thượng phẩm là loại không gây hại mà có nhiều tác dụng, loại trung phẩm là loại có nhiều tác dụng nhưng có độc và loại thứ 3 là hạ phẩm là loại có tác dụng nhưng rất độc. Nếu ta dùng loại thượng phẩm để chữa bệnh thì không sợ nguy hiểm ? Gạo ta nấu cơm ăn hàng ngày chính là thảo dược có tên là cánh mễ, rau muống ta ăn có tên thuốc là thông thiên thái…nếu lâu ngày không ăn cơm ta sẽ bị bệnh tê phù do thiếu B1, nếu thiếu rau ta sẽ bị bệnh sorcut, loãng xương, thoái hóa khớp. Nhiều thầy thuốc nổi tiếng trên thế giới như Hippocrate, Platon, Biển Thước, Hoa Đà, Erasistrate, Paracelse – cha đẻ của ngành y hóa học, Paul Ehrlich – cha đẻ của môn hòa học liệu pháp, William RơnGen – cha đẻ của tia X và các chính trị gia, các nhà khoa học, các giáo sư, bác sỹ của nước ta đều dùng thảo dược hàng ngày, nhờ thảo dược mà vượt qua bệnh tật.
– Xác định nguyên nhân gây bệnh là do ngũ tạng là khá chuẩn xác.
Trong cơ thể có 5 bộ phận quan trọng nhất là Tim, Gan, Tỳ, Phế, Thận và kinh mạch, mọi căn nguyên đều từ ngũ tạng mà ra, người thấy thuốc chỉ cần bắt mạch là biết được Tim hay Thận có vấn đề và muốn trị được bệnh thì phải “ Bổ” hoặc “ tả “ ngũ tạng là khỏi bệnh.

Y học cổ truyền

2. Nhược điểm
Y học cổ truyền dựa vào các hiện tượng tự nhiên như âm, dương, ngũ hành, Phong, hàn, thử, thấp, táo hỏa để giải thích bệnh là chưa thuyết phục.

II. Ưu và nhược điểm của y học hiện đại.
Đến thế kỷ XV, khi nền khoa học kỹ thuật phát triển thì giới y khoa của một số nước châu Âu là Pháp, Đức, Anh, thụy sỹ, Italia đã dần dần từ bỏ nền y học cổ truyền, từ bỏ việc sử dụng thảo dược để chữa bệnh. Người khởi đầu cho việc này là bác sỹ Paracelse người Đức ( 1493 – 1541 ) ông đã khai trương môn y hóa học đặt viên đá đầu tiên khai sinh nền y học hiện đại, tiếp đó là Giáo sư người Đức là Paul Ehrlich ( 1854 – 1915 ), người khai sinh môn hóa học liệu pháp.
1. Ưu điểm.
Ưu điểm lớn nhất mà Y học hiện đại mang cho chúng ta là những kiến thức về Giải phẫu học, giải phẫu bệnh, vi trùng học và bệnh học tế bào. Nhờ những kiến thức này chúng ta hiểu rõ thêm về vị trí, cấu tạo, chức năng và cơ chế hoạt động của các bộ phận trong cơ thể.

Y học hiện đại

2. Nhược điểm.
– Nhược điểm lớn nhất của y học hiện đại là dùng hóa chất chiết xuất từ thảo dược và hóa chất tổng hợp để chữa bệnh.
Thực ra thật khó trách được bác sỹ Paracelse – người khai trương môn y hóa học ( médicine Spagyrique ) và Giáo sư Paul Ehrlich – người khai sinh môn hóa học liệu pháp, bởi thời đó các ông chưa có kiến thức sâu về hóa học và sinh học nên không lường được các phản ứng có hại mà các hóa chất đó gây ra cho người bệnh, chưa biết được hệ miễn dịch sẽ phản ứng thế nào đối với các chất lạ xâm nhập cơ thể. Có trách là trách các hãng dược và các bác sỹ ngày nay vì họ đã biết tác hại của thuốc tân dược mà không kịp thời dừng lại để chuyển hướng sang nghiên cứu và sử dụng thảo dược.
Chúng ta cũng không thể trách được Giáo sư Bác sỹ Alexander Flaming, người đã đạt giải Nobel về phát minh ra kháng sinh Penicilin, bởi lẽ lúc đó ông chưa biết rõ đặc tính của vi khuẩn là luôn biến đổi để chống lại sự khắc nghiệt của môi trường. Chỉ trách rằng, năm 1947 khi đã phát hiện ra các vi khuẩn kháng lại Penicilin mà các bác sỹ không dừng việc sử dụng Penicinil.
– Nhược điểm thứ 2 là chưa tìm ra chính xác các nguyên nhân gây bệnh nhưng vẫn dùng hóa chất độc hại để chữa triệu chứng bệnh làm cho bệnh nhân không chết vì bệnh mà chết vì thuốc.
– Nhược điểm thứ 3 là làm thay đổi hoặc tê liệt chức năng của một hoặc một vài bộ phận trong cơ thể dẫn đến phải điều trị đến lúc chết, hoặc làm phát sinh bệnh mới nguy hiểm hơn.
– Nhược điểm thứ 4 là dùng những trang thiết bị gây nguy hiểm cho con người để khám và chữa bệnh đó là thiết bị chụp X quan, chụp cắt lớp, nội soi, xạ trị.
3. Hậu quả.
Vì những nhược điểm trên dẫn đến:
– Tuổi thọ của những người được chăm sóc y tế có xu hướng giảm, trong khi tuổi thọ của những người không được chăm sóc y tế lại tăng.
– Tỷ lệ người mắc bệnh ngày càng nhiều, nhất là những bệnh khó chữa như Ung thư, đái đường, gút…làm cho tình trạng quá tải tại các bệnh viện ngày càng cao.
– Làm suy giảm lòng tin của công chúng với y học.

III. Tại sao phải áp dụng y học tự nhiên ?
Vì Y học tự nhiên loại bỏ được các nhược điểm của Y học cổ truyền và Y học hiện đại nhưng lại kế thừa được những mặt ưu điểm của Y học hiện đại là kiến thức giải phẫu cơ thể, giải phẫu bệnh, tế bào học, mô học, sinh lý học và mặt ưu điểm của Y học cổ truyền là dùng thảo dược và các vật phẩm của tự nhiên làm thức ăn và phòng chống bệnh. Sự ưu việt của Y học tự nhiên là:
1. Trả lại quyền bảo vệ cơ thể cho chính hệ thống bảo vệ của cơ thể.
Chúng ta biết rằng, hệ thống bảo vệ của cơ thể chia làm 2 tuyến bảo vệ, tuyến bên ngoài là da, và các cửa ngõ vào cơ thể như phổi, hầu, mũi. Tuyến bên trong là hệ bạch huyết và hệ nội tiết có thể sản xuất và cung cấp đầy và đủ các loại Enzym và hooc mon cho nhu cầu sinh trưởng phát triển và bảo vệ cơ thể. Hệ miễn dịch có khả năng tạo ra hàng ngàn tỷ kháng thể chui tới mọi ngõ ngách của cơ thể để tìm diệt các vật lạ xâm nhập đồng thời loại bỏ các tế bào bị bệnh trong cơ thể, đây là đặc điểm mà không một loại máy móc nào có thể làm được.

Y học tự nhiên

2. Dùng thảo dược làm đồ ăn thức uống vừa bổ dưỡng vừa chống bệnh.
Bệnh là sự bất thường trong cơ thể, có 4 nguyên nhân chính gây bệnh đó là:
– Thiều một chất hóa học nào đó.
– Do nhiễm độc.
– Do nhiễm vi sinh vật
– Do tác động của yếu tố vật lý
Thảo dược chính là thức ăn của con người, trong thảo dược có hàng trăm hợp chất sinh học khác nhau, những hợp chất này là nguyên liệu cung cấp năng lượng và nguyên liệu để các ơ quan trong cơ thể chuyển hóa thành các chất nuôi dưỡng và bảo vệ cơ thể.
Thảo dược là một sinh vật cùng sinh sống trong môi trường của con người, nhưng lại chịu nhiều tác động bất lợi hơn con người nên tạo ra nhiều miễn dịch đặc hiệu chống chọi với các loại hóa chất, vi khuẩn và các yếu tố vật lý, khi chúng ta ăn thảo dược có nghĩa là đã tận dụng các kháng thể đặc hiệu đó để chống lại bệnh tật.
Thực tế cho thấy, Y học hiện đại đã đến bước đường cùng bởi các loại thuốc chữa bệnh không chỉ kém hiệu quả mà lại gây ra những phản ứng có hại cho bệnh nhân, hàng chục chất kháng sinh đã bị vi khuẩn vô hiệu, có loại vi khuẩn còn dùng kháng sinh làm đồ ăn, hàng chục loại thuốc bổ chế ra để bồi bổ và kéo dài tuổi thọ thì lại làm cho người dùng chóng chết.
Còn Y học cổ truyền sau một thời gian dài bị lấn át nên tư duy lý luận bị dừng lại do đó có phần lạc hậu với thực tế, nhất là trong bối cảnh môi trường sống bị ô nhiễm như hiện nay.
Thiết nghĩ, việc thực hiện giải pháp y học tự nhiên vừa lợi mình lại ích nước. áp dụng giải pháp y học tự nhiên là lợi mình vì không bị bệnh mà tránh phải dùng thuốc tân dược vì thuốc tân dược là chất độc, là chất giả tự nhiên, uống vào bệnh không khỏi mà lại sinh ra nhiều bệnh khác nguy hiểm hơn và có khi chết sớm, vô hình dung chúng ta bỏ tiền mua họa vào thân.